13.12.16

15 bộ phim hay nhất về những mối tình dang dở (I)

Mình ít khi đọc hết nội dung của các danh sách gợi ý phim, và theo thói quen, mình không xem một bộ phim chỉ vì nhìn thấy nó trong một danh sách gợi ý nào đó. Nhiều tháng trước mình đọc bài này trên Taste of Cinema, xong thấy khá thích nên đã dịch lại, mặc dù nhận thấy những bài viết như vậy chỉ mang tính giới thiệu chứ không thể nào sâu sắc được. Và theo mình, đây cũng không hẳn là những phim “hay nhất”, vì chữ “hay nhất” nhìn chung rất giả dối.

Fallen-Angels-10_thumb_thumb_thumb

Có nhiều điều góp phần định nghĩa chúng ta như những con người trên cõi đời này, nhưng thế giới mà ta sống không thể được thấu hiểu thật sự khi ta quên đi sự thật rằng con người là những sinh vật đầy xúc cảm.

Lịch sử nhân loại được gây dựng trên hai trụ cột thiết yếu: cảm xúc và lý trí, được diễn tả bởi nghệ thuật và khoa học. Nhưng trong bản chất con người vẫn còn đó sự tồn tại của mâu thuẫn biện chứng, cuộc chiến giữa cảm xúc và tư duy tạo nên sự phức tạp trong cuộc sống, khiến nó trở nên thi vị nhưng cũng đầy đáng sợ.

Chúng ta muốn tường tận được mọi điều, nhưng lại không thể hiểu được bản thân nếu không thấu hiểu chính những cảm xúc của mình; con người luôn thay đổi, như những dòng nước tuôn chảy, ta của năm năm hay năm ngày trước sẽ chẳng còn là ta bây giờ. Và trong tất thảy những cung bậc cảm xúc của lăng kính ấy, cảm giác yêu là thứ năng lực mạnh mẽ và bí ẩn nhất của con người.

Đó có thể là lối đi dẫn ta đến những niềm vui thú, thậm chí mở ra trước mắt ta cảnh thiên đường hay nhấn chìm ta vào đại dương u buồn, tuyệt vọng. Trong danh sách này, tôi đã chọn ra 15 bộ phim với những câu chuyện kể, nơi ấy có những mối tình không phẳng lặng, có những nhân vật đối mặt với tâm trạng day dứt bởi sự tan vỡ, nơi ấy có tình yêu nảy nở mạnh mẽ đến mức cuộc sống này hóa ra thật bé nhỏ kế bên.

1.The Lobster (Yorgos Lanthimos, 2015)

The-Lobster_thumb_thumb_thumb

“The Lobster”, một bộ phim của đạo diễn người Hi Lạp Yorgos Lanthimos, thoạt đầu, đây có vẻ là một bộ phim hài lập dị giễu nhại quan niệm về tình yêu. Nhưng ẩn sâu bên trong, “The Lobster” đặt ra câu hỏi về khả năng của tình yêu trong một thế giới hậu hiện đại mực thước mà chúng ta sống vài thập kỉ qua, nơi tất cả mọi thứ được tiêu chuẩn hóa, sự ngẫu hứng bị coi thường, và sự thấu hiểu thật sự luôn là một nhiệm vụ đầy thử thách.

Bộ phim nhấn mạnh vào quá trình tình yêu đôi lứa bị biến đổi thành thủ tục máy móc thay vì dòng chảy của cảm xúc nồng nhiệt vốn có. Những con người trong phim không hề tìm kiếm sự toàn vẹn và cảm thức về tình thân vốn gắn liền với một mối quan hệ yêu đương.

Trong cái xã hội vị kỉ ấy, tình yêu cũng trở nên thật nhỏ nhen, mỗi người bắt đầu tìm kiếm chính mình nơi người kia, và sự tìm kiếm một nhân cách tương đồng bỗng trở thành nguồn động lực to lớn nhất, dường như ý niệm “tình yêu của đời người” vốn có, không gì hơn là một biến thể hay phần bổ sung của bản ngã con người.

“The Lobster” thôi thúc người xem suy ngẫm về cách chúng ta chạm ngưỡng sự say mê và cảm giác thuộc về, quên đi những lề thói xã hội để suy nghĩ sâu sắc hơn.

2. Anomalisa (Charlie Kaufman and Duke Johnson, 2015)

Anomalisa_thumb_thumb_thumb

“Anomalisa” là bộ phim được viết bởi Charlie Kaufman, đồng đạo diễn với Duke Johnson, phim sử dụng kĩ thuật hoạt họa frame-by-frame được chụp lại khéo léo để kể câu chuyện về một trong những mối bận tâm dai dẳng nhất của lịch sử loài người: tình yêu. “Anomalisa” diễn giải tình yêu dưới những sắc thái khác nhau, từ sự héo mòn và luyến tiếc quá khứ khơi gợi từ mối tình đã qua, đến những ánh nhìn và tia sáng đầu tiên báo hiệu một tình yêu mới.

Bộ phim diễn tả con người ta khi yêu cũng như khi bước ra khỏi tình yêu như một hiện tượng khó lý giải. Michael Stone phải lòng Lisa, một người phụ nữ rụt rè ông gặp trong khách sạn của mình vì giọng nói của cô. Trong khi tất cả mọi người đều nói với chất giọng trầm đục và mờ nhạt, giọng của cô lại thật khác biệt; chính điều đấy đã khiến cô nổi bật giữa đám đông, và ở nơi cô gái ấy, Michael đã khám phá được một vẻ đẹp tiềm ẩn.

Thế nhưng sau những đêm hạnh phúc bên nhau, trong cảnh phim gợi nhớ đến đến một phân đoạn u ám trong “The Stranger” của Albert Camus, dưới những tia nắng rực rỡ xuyên qua cửa sổ, ông nhận ra rằng giọng nói của Lisa bỗng trở nên trầm đục và nhàm chán như bao người khác. Tình yêu đến rồi đi, dù chúng ta nếm trải và tận hưởng vô vàn nhưng vẫn thật khờ khạo khi ta cứ cố hiểu được nó.

3. Days of Being Wild (Wong Kar-Wai, 1990)

days-of-being-wild-1_thumb_thumb_thu

“Days of Being White” là bộ phim thứ hai của đạo diễn Wong Kar-Wai, và là một chuỗi những câu chuyện kể chúng ta về những thách thức của những người trẻ khi đối mặt với sự phức tạp của tình yêu và sự tan vỡ. Những câu chuyện đưa ta đến kệt luận vô vọng rằng, tình yêu lắm gian nan, việc tổn thương là điều khó tránh khỏi, nhưng đó vẫn là một trong những cảm xúc tuyệt đẹp mà con người nếm trải.

Bộ phim như một bản tình ca buồn trong không khí có phần u tối và chết chóc. Phim đi từ câu chuyện của một kẻ đào hoa được hai người con gái theo đuổi nhưng anh ta lại phớt lờ, đến câu chuyện về người cảnh sát cô độc, một kẻ lãng mạn cùng cực. Bộ phim đã miêu tả những năm tháng tuổi trẻ như “những tháng ngày phóng đãng”, trước tương lai vô định, trái tim ta luôn xao động, và ta cứ mãi tìm kiếm một nơi chốn dành cho riêng mình trong thế giới này.

4. Jules et Jim (François Truffaut, 1962)

jules-et-jim-1962_thumb1_thumb_thumb

‘Jules et Jim” là một trong những bộ phim xuất sắc nhất thuộc dòng phim Làn sóng mới (*) và cũng là một trong những tuyệt tác của đạo diễn François Truffaut.

Phim là câu chuyện của Jules và Jim, hai người bạn có chung sở thích, thú vui và tính cách đa cảm sống ở Paris trước Thế chiến thứ I. Họ đều phải lòng Catherine, một người phụ nữ với đường nét giống với bức tượng từng mê hoặc cả hai người. Bằng việc sáng tạo một ngôn ngữ điện ảnh mới, bộ phim ngày càng khắc họa rõ hơn sự biến đối theo năm tháng trong mối quan hệ giữa ba nhân vật trong mối tình tay ba.

Thoạt đầu, khi còn trẻ trung và đầy nhiệt huyết, họ cùng nhau tận hưởng cuộc sống, họ vui vẻ và buông thả. Nhưng cuối cùng, khi Jules kết hôn với Catherine, cuộc chiến tranh đã chia rẽ hai người bạn. Sau tất cả, mọi người đoàn tụ và Jim nhận ra rằng cuộc hôn nhân của Jules và Catherine không hạnh phúc. Jules say đắm Catherines đến điên cuồng, nhưng cô lại chỉ quan tâm đến Jim.

Khi mối tình tay ba ngày càng trở nên phức tạp thì đó cũng là lúc những cảm xúc mâu thuẫn và rối rắm nảy sinh. Bộ phim đào sâu vào mối quan hệ vốn vượt lên trên chuẩn mực thông thường để chấp nhận những sự muôn màu, cũng như sự khác biệt và những lối hành xử không mong đợi, nhờ đó, con người có thể thấu hiểu và cảm thông cho nhau hơn.

5. Les Amours Imaginaires (Xavier Dolan, 2010)

Heartbeats-900x600_thumb_thumb_thumb

« Les Amours Imaginaires » là bộ phim thứ hai của Xavier Dolan’s, mặc dù tác phẩm có phần không hoàn hảo về mặt kĩ thuật nhưng nhìn chung đã thể hiện được trí tưởng tượng phóng khoáng và trực giác độc đáo của ông.

Bộ phim là bức phác họa về một con đường nhiều ngả rẽ : Marie là một người phụ nữ và Francis là một người đàn ông đồng tính, họ bị cuốn vào cuộc tranh giành tình yêu của Nicolas, một chàng trai tóc vàng có những nét giống với các những bức tượng Hi Lạp vốn là hình mẫu lý tưởng của vẻ đẹp nam tính.

Chuyện phim gắn liền với lời bộc bạch của những con người phải chịu nhiều đau khổ, câu chuyện tình yêu đổ vỡ của họ đã làm sâu đậm thêm sự khó khăn khi họ tìm cách đối diện với cảm xúc của nhau. Mọi chuyện như dự báo cái kết cho tình yêu của chúng ta. Không dễ để biến thực tại tương thích với những giấc mơ và ảo ảnh của con người.

6. Fallen Angels (Wong Kar-Wai, 1995)

Fallen-Angels-10_thumb2_thumb_thumb

Cũng như “Days of Being Wild”, với “Fallen Angels” người xem sẽ bước vào thế giới của một mối tình buồn. Sự tổn thương là yếu tố thường thấy trong mọi câu chuyện; những mâu thuẫn giữa yêu và được yêu, sự rời bỏ và sự bỏ rơi, làm ai đó đau khổ hay là người khổ đau.

Wong Kar-Wai luôn khắc họa nhân vật của ông với sự tinh tế rõ nét; họ có nột tâm sâu sắc và mâu thuẫn, yêu nhau bằng hết sức trẻ và nỗi đau, cùng nỗi tuyệt vọng chảy tràn. Họ là những con người đang sống với sự buông thả như một đặc quyền.

Một kẻ sát nhân chuyện nghiệp làm người tình của anh ta (người mà anh ta chưa bao giờ gặp) đau khổ vì quyết định rời bỏ phi vụ, một chàng trai lặng thinh sau khi ăn hết những lon dứa đóng hộp mà lúc đau khổ anh đã lang thang khắp các cửa hiệu tăm tối để tìm chúng, đấy là những trục xoay chính xuyên suốt bộ phim. Từ tính hài hước đến tính dục vọng tăm tối, bộ phim trải dài trên những sắc thái khác nhau, khai phá những tầng sâu cảm xúc trong trái tim mỗi người nảy sinh trong những hoàn cảnh thích hợp.

7. La Vie d’Adèle (Abdellatif Kechiche, 2013)

Blue-is-the-Warmest-Color_thumb_thum[2]

Chủ nhân của Cành cọ vàng ở Liên hoan phim Cannes năm 2013, “La Vie d’Adele” là câu chuyện kể về Adele (Adèle Exarchopoulos thủ vai), một phụ nữ người Pháp phải lòng Emma một nghệ sĩ tài năng (Léa Seydoux thủ vai).

Người xem chứng kiến sự khát khao của Adele, sau khi trải qua những mối quan hệ khác giới, cô đã bị mê hoặc bởi Emma, một người phụ nữ bí ẩn và độc lập. Tình cảm chớm nảy sinh nhưng họ lại tìm cách trốn tránh nhau và vì thế mối quan hệ đã tan vỡ. Adele sống trong tận cùng tuyệt vọng trong khi Emma nghĩ rằng cô không còn yêu Adele nữa. Bộ phim kết thúc trong nước mắt cùng với một khởi đầu mới mẻ.

 

( * ) Phong trào Làn sóng mới (La Nouvelle Vague hay The New Wave): trào lưu điện ảnh ở Pháp từ năm 1958 đến cuối những năm 1960.

12.12.16

15 bộ phim hay nhất về những mối tình dang dở (II)

8. Love (Gaspar Noé, 2015)

love_thumb3_thumb

Ở thời điểm này (4.2016), “Love” là bộ phim mới nhất, đây là câu chuyện tình yêu của Murphy, một sinh viên ngành điện ảnh ở Paris, và một họa sĩ tên Electra. Tình yêu của hai người dữ dội, nồng nhiệt và đặc biệt nhưng lại phải tan rã, chỉ có kí ức và sự nuối tiếc của Murphy còn lại. Chuyện phim được kể lại bằng lời của Murphy chỉ sau khi mọi chuyện kết thúc, Electra bỏ đi, còn anh sống với Omi, cô gái mà anh vô tình làm có thai.

Phim được kể qua những dòng hồi ức, khi nhân vật Murphy trong cơn tuyệt vọng và buồn bã nhớ lại mối quan hệ phức tạp của anh với Electra. Ở những cảnh phim cuối cùng, Murphy bị chính cảm xúc của mình chi phối và bắt đầu lẫn lộn thực tại và những giấc mơ. Electra bỗng từ đâu bước đến, họ nằm bên nhau trong bồn tắm, một mình Murphy dằn vặt với tình yêu anh dành cho cô, khơi dậy khát khao được chết và cả tình yêu mà anh dành cho đứa con nhỏ.

9. Hiroshima, mon amour (Alain Resnais, 1959)

Hiroshima-Mon-Amour-movie_thumb1_thu

Alain Resnais đạo diễn “Hiroshima, mon amour” vào năm 1959, đây là một trong những bộ phim được biết đến nhiều nhất của ông. Bộ phim khắc họa hình ảnh của hai người yêu nhau để qua đó kể lại câu chuyện về những vết thương mà Thế chiến thứ 2 để lại trong tâm hồn mỗi con người. Nàng là diễn viên trong một bộ phim phản chiến chống vũ khí hạt nhân, còn chàng là kĩ sư Nhật Bản làm việc ở Hiroshima. Ở nơi lẩn trốn, chuyện tình khi xưa của họ lại trở về và gợi dậy những vết thương đã qua, và đó là cách những gì vốn ẩn đằng sau chúng ta giờ đây lại hiển hiện dưới ánh sáng.

Được viết bởi Marguerite, bộ phim chứa đựng ngôn ngữ đầy nên thơ. Xúc cảm của những người yêu nhau rối ren và cao trào, họ đã làm tình như thể họ là một phần tách rời khỏi thế giới. Các nhân vật giằng xé giữa qua khứ và hiện rại, nỗi đau xưa kia của họ đã tìm được liều thuốc giải, họ cần nhau, thế nhưng cuộc đời của hai người đã dẫn họ về hai ngả riêng rẽ như một điều không thể tránh khỏi.

10. In The Mood For Love (Wong Kar-Wai, 2000)

In-The-Mood-For-Love_thumb1_thumb

“In the Mood For Love” là bộ phim thứ ba của đạo diễn Vương Gia Vệ có mặt trong danh sách, đây hẳn không phải là điều bất ngờ. Trong bộ phim kinh điển này là một câu chuyện tình yêu lạ lùng. Chow Mo-wa và Su Li-zhen, hai người hàng xóm trong một khu trọ đã nhận ra những người bạn đời của họ đang ngoại tình với nhau, và sau đó giữa họ cũng nảy sinh tình cảm.

Góc máy di chuyển nhẹ nhàng qua những căn phòng như thể nó là một thiên sứ đang cố thấu hiểu tính người trong một vở kịch, và các nhân vật đi từ nơi nay đến nơi khác như thể họ cũng là một phần của màn trình diễn phức tạp ấy. Chow và Su bắt đầu trò chơi tình ái khi bản nhạc phim đẹp đẽ cất vang nổi bật dung mạo của một tình yêu liều lĩnh, một tình yêu huyễn hoặc nảy sinh từ hạt giống của sự lừa dối và bất tuân.

11. Pierrot, le Fou (Jean-Luc Godard, 1965)

pierrot-le-fou-1966_thumb1_thumb

“Pierrot, le Fou’’ là một trong những bộ phim hay nhật được đạo diễn bởi một con người táo bạo giữa phong trào Làn sóng mới (*) của Pháp, Jean-Luc Godard. Với phong cách kể chuyện tươi trẻ, nhiệt huyết giống như cách Julio Cortázar đã thực hiện với văn chương và lối kể chuyện mang tính điện ảnh, Godard kể lại câu chuyện của một người đàn ông phát ốm vì xã hội trung lưu mà ông đang mắc kẹt về sau đã trốn thoát với Marianne, một cô trông trẻ, người sau này là người tình của ông.

Sau khi dính líu vào một vụ buôn vũ khí trái phép, hai người bỏ trốn vào thành phố và trú chân ở một bờ biển, ở nơi đây họ đã có những phút giây yên bình. Họ là những kẻ yêu nhau say đắm dưới sự truy đuổi của bọn khủng bố và xã hội trung lưu. Cả hai đều có những nỗi niềm gắn bó với nhau. Pierrot là người đàn ông sáng suốt với tâm hồn của một tiểu thuyết gia, trong khi đó Marianne là một người phụ nữ đầy đa cảm.

“Perriot, Le Fou” là một bộ phim phức tạp và cũng có thể thật giản dị nếu ta chỉ nghĩ về nó như một câu chuyện tình, thế nhưng chắc chắn rằng bộ phim đã khắc họa một cách đẹp đẽ những bí ẩn trong tình yêu.

12. Annie Hall (Woody Allen, 1977)

woody-allen-annie-hall_thumb2_thumb

“Annie Hall’ là một bộ phim tinh tế của Woody Allen, phim bắt đầu với màn độc thoại của Allen dưới cái tên Alvy Singer, một diễn viên hài mắc căn bệnh loạn thần kinh chức năng đang nhớ lại cuộc đời mình và mối quan hệ với Annie Hall, Diane Keaton thủ vai.

Alvy thuật lại mối quan hệ của mình với Annie với nỗ lực thấu hiểu sự đổ vỡ, đó cũng là lúc anh nhớ lại tuổi thơ của mình và những thời khắc quan trọng trong cuộc đời.

Mang đậm dấu ấn các bộ phim khác của Woody Allen như những liên hệ đến Ingmar Bergman, triết học, tâm lý học, và cả Do Thái giáo , đây là một bộ phim tươi vui và hài hước khi đặt người xem vào một tình thế muôn thuở khi không thể nào hiểu vì sao một tình yêu đầy ắp niềm vui lại không thể tránh khỏi sự tan vỡ, bộ phim chỉ để lại cho người xem những câu hỏi không lời đáp.

13. Eternal Sunshine of the Spotless Mind (Michel Gondry, 2004)

sunshine

Sự tổn thương và nỗi buồn, tình yêu và nỗi tuyệt vọng, sự đau đớn đậm sâu khiến bạn chỉ muốn quên đi mọi thứ và trốn chạy chính mình... đó là những cung bậc cảm xúc có trong bộ phim “Eternal Sunshine of Spotless Mind”.

Bộ phim được viết bởi Charlie Kaufman, một trong những nhà biên kịch tài năng của thời đại. Phim là câu chuyện về một người đàn ông tên Joel Barish (Jim Carrey thủ vai), sau khi biết được người yêu đã xóa bỏ mình khỏi trí nhớ của cô, anh đã quyết định làm điều tương tự.

Thế giới huyền ảo siêu thực của bộ phim đã len lỏi giữa những xúc cảm phức tạp gắn liền với những nỗi chán chường trong tình yêu, cùng với đó, sự ngờ nghệch cũng nhường chỗ cho nét hài hước tinh tế. Nỗi đau biểu hiện sự lạnh lùng đi liền với tình yêu đã mất có thể dẫn đến nỗi buồn đậm sâu, bộ phim đã thể hiện điều đó bằng góc nhìn riêng biệt.

14. L’Histoire d’Adèle H. (François Truffaut, 1975)

45070467a714d9d2d315023b3fa61d8d_thu[1]

Trong bộ phim này, đạo diễn thuộc trào lưu Làn sóng mới (*) huyền thoại François Truffaut đã kể lại một câu chuyện tình yêu nồng nàn nhưng đầy rạn vỡ đến chìm sâu vào điên dại. Adèle, con gái của Victor Hugo, nàng là nhà văn với tâm hồn của một thi sĩ. Nàng sống trong một thế giới lý tưởng nơi nàng yêu điên cuồng một trung úy trong quân đội Pháp vốn thờ ơ, lạnh nhạt với Adèle dù nàng đã rất nỗ lực để có được tình yêu của chàng.

Nàng ám ảnh và cương quyết với tình yêu nhưng sự theo đuổi không ngưng nghỉ ấy rốt cuộc đã không thành. Nỗi si mê của Adèle hoàn toàn đối lập với sự hồi đáp lạnh lùng của vị trung úy. Tình yêu trong bộ phim buồn bã và bức bối, đó là thứ tâm trạng đáng dè chừng hoàn toàn tách biệt với những trào dâng trong trái tim mỗi chúng ta.

15. A Short Film About Love (Krzysztof Kieslowski, 1988)

A-Short-Film-About-Love_thumb1_thumb

“A Short Film About Love” là phần lý giải xuất sắc cho series “Decalogue” của đạo diễn Kieslowski, bộ phim nói về mười điều răn của Chúa và sự hỗn loạn trong trái tim Tomek, một chàng trai yêu say đắm người hàng xóm đối diện. Anh theo dõi cô hằng đêm và chỉ sau vài cuộc gặp gỡ mà Tomek đã tính trước, anh đã có cuộc hẹn đầu tiên với cô.

Bộ phim thuật lại những trải nghiệm đầu đời của Tomek với thế giới của tình yêu và tình dục. Sau buổi hẹn đầu tiên, cô gái mời Tomek đến căn hộ của mình sau đó sỉ nhục và hủy hoại anh thậm tệ. Tomek hiểu ra rằng đôi khi ta không thể vượt qua được ranh giới giữa tình yêu và tình dục, những gì ở lại chỉ là sự buồn đau lạ lẫm và một chút dư vị buồn bã còn sót lại trong lòng.

Tiểu sử tác giả: Emilio Martínez Frausto là sinh viên ngành Kiến trúc ở thành phố Mexico. Hai trong số những đam mê lớn nhất của anh là văn học và điện ảnh. Anh viết thơ, truyện ngắn và kịch bản phim.

Nguồn bài viết gốc: http://www.tasteofcinema.com/2016/the-15-best-movies-about-failed-love/

( * ) Phong trào Làn sóng mới (La Nouvelle Vague hay The New Wave): trào lưu điện ảnh ở Pháp từ năm 1958 đến cuối những năm 1960.

19.11.16

Định nghĩa của người lười

Lười nghĩa là sao? Tôi hình dung sự lười biếng của một con người là như này, một anh đang đứng, và trước anh là một tảng đá. Nhưng anh không tìm cách nhảy qua nó, anh cũng không tìm cách đập vỡ nó. Anh đẩy nó bằng toàn bộ thân thể anh, qua mọi chặng đường anh đi, cho đến khi anh quen với sức nặng của nó, nó trở nên vô hình với anh. Thế thì thôi, đời anh đã được cứu vãng, ở một thái cực khác. Con người, sẽ luôn được cứu vãn, bằng nhiều cách, nhiều chiều, cuộc sống tươi đẹp mở rộng theo mọi hướng. Sống thế nào cho vui không phải là vấn đề, chọn vui theo hướng nào mới là chuyện lớn.

Những lời an ủi. Là những lời được thốt ra khi người nói đã hoàn toàn bỏ xa cái tôi của mình. Đồng thời phớt lờ đi hiện trạng của đối phương. Đó là những lời sinh ra từ hư không nhưng lại rất mang tính cập nhật. Từ khóa cho những lời an ủi: “đừng”, “không sao đâu”, “mai mốt”, “sẽ”, “rồi sẽ”, “thời gian sẽ”, “để lần sau”, “cơ hội”,… Những từ khóa thật sự: “tôi không tin”, “không thể ngờ”, “sao mày lại có thể”,… Những lời an ủi nên được sản sinh ra từ sự thấu hiểu, chúng không nên, hoàn toàn không nên đến từ một bầy đàn những kẻ mù lòa về giá trị của những gì người đang khóc đã đánh mất.

Nỗi buồn. Ban đầu thường rất mù quáng. Anh buồn, và anh trở nên cay cú, và anh trở nên đầy định kiến với cuộc đời của người khác, không phải vì anh nghĩ mình là người buồn nhất. Mà vì anh nghĩ mình là một thể loại bất hạnh đặc trưng trên cuộc đời này và hẳn nhiên, chỉ những vấn đề của anh mới là vấn đề, vấn đề của kẻ khác chả khác nào miếng mứt bí quá ngọt quá vô vị.

Sự tiếc nuối. Là thường đi liền với sự thất bại. Tôi nghi ngờ những sự tiếc nuối xảy đến thường trực, ví dụ như là sau mỗi kì kiểm tra, như mỗi lần chơi trò này trò kia mà bị thua từ nhỏ đến giờ. Tôi nghi ngờ, không hẳn vì tôi luôn sai lầm, mà vì sự hiển nhiên của những nuối tiếc ấy. Nhiều khi chúng đơn thuần chỉ là cảm xúc, là công hao phí, chứ không hề mở đường cho sự tiến bộ, chúng cũng có thể là con đường dẫn đến nỗi buồn, rồi đến sự mù quáng ngậm ngùi như tôi đã nói ở trên. Nhưng dù gì, một người biết dằn vặt cũng còn may mắn hơn là người không có tí gì để nuối tiếc bởi họ chẳng có khái niệm gì về những sai lầm. Hoặc may thay, những người như thế hạnh phúc ở một thái cực khác. Nỗi tiếc nuối của bạn bè hoặc của tôi, dù không diễn ra đồng thời nhưng có điểm chung là thường tắt đi rất nhanh, với tôi thì ngày càng nhanh, nếu không tỉnh táo, thì cơn lười biếng (như trên) sẽ có cơ tràn về sau đó.

Tất cả mọi thứ, nhiều khi đi theo một vòng rất tròn, như một viên đá đẩy đi rất dễ.

26.10.16

Xanh xao

IMG_1216

Rồi anh sẽ lui về nơi xanh thẳm
Thấu tim em anh chết lặng sớm mai
Bởi lòng em là một chuỗi cười tròn
Nên câu thơ anh chẳng cần cắn vỡ *

Này em nhé cuộc đời nên rộng mở
Lúc nghĩ suy cũng là lúc thật thà
Này em nhé cuộc đời lắm “thế mà”
Trong tâm tư mình quên không e sợ

Sợ người ngồi đấy
Cho không gian đi
Thời gian xanh lá
Hóa xanh xao rồi. 

* Ý thơ Hàn Mặc Tử.

21.10.16 ~ trên một chuyến xe, và khi về nhà.

15.10.16

Cho nhau một tình trạng

Ruiz Zafón nói: Sách là gương, bạn chỉ có thể nhìn thấy trong ấy những gì đã có sẵn bên trong bạn.

Còn mình thì nghĩ: Sự tò mò là gương. Vế sau chép nguyên xi.

Status của bạn bè mình trên Facebook, những nỗi lòng của bạn bè mình thảng hoặc hiện lên trên newsfeed tạo cho mình cảm giác mình sẽ chẳng bao giờ đến gần được họ, vì mình biết quá rõ họ. Vì biết quá rõ họ, nên mình không thể nào thôi nhìn thấy chính mình, sự thấu hiểu bị kiềm hãm đáng kể khi người ta chỉ nhìn thấy cái tôi của mình nơi một người khác.

Mình ngại phải xét đoán mọi người, mà mình thì cứ không thôi xét đoán mọi người, ai cũng không thôi xét đoán mọi người (về ngoại hình, tính cách; từ ngoại hình suy ra tính cách; từ tính cách mà làm liên lụy đến cách nhìn nhận ngoại hình). Càng biết về nhau, càng không thôi tò mò về nhau, và càng suy diễn, và càng phỏng đoán, càng chỉ thấy những nổi trôi. Mạng xã hội, nào chẳng phải là, một đại dương nâng đỡ hàng tấn dầu tràn lênh đênh. Những niềm vui trôi nổi, những nỗi buồn trôi nổi. Chúng ta cứ việc nỗ lực đi tìm đến chiều sâu của những váng dầu, còn những váng dầu cứ việc bảng lảng trôi đi, và chia xa. Từ hồi nào mình đã nghĩ, sự khai sinh của mạng mẽo, phải dành cho những gì cấp tiến nhiều hơn là xã giao, giãi bày, tán gẫu. Con người, chẳng phải sinh ra là đã o oe khóc rất cảm thán sao, bây giờ lựa chọn rất nhiều, muốn o oe khóc cũng phải chờ lúc, phải chọn lựa nơi để o oe, mình đã tự làm phức tạp cuộc sống lên như thế. Dùng miệng, chẳng phải đơn giản hơn sao.

Nào ai ngờ, dùng miệng thì không sửa sai được, nếu có thì cũng mất rất nhiều thời gian (hoặc không gian). Mình viết note này khi đọc được comment của Dg. ở một diễn biến không liên quan, Dg. có hai câu hỏi lớn, mà thực chỉ có một, sau lần sửa đi.

Câu thứ nhất: Có quyền được người khác xa lánh không?

Bẵng đi mấy giây: Có quyền chán khi bị người khác xa lánh không? 

Mình nào trả lời được những câu hỏi ấy, ngay cả cho chính mình. Mình không hiểu Dg., nếu mình hiểu Dg., thì chỉ có hai trường hợp xảy ra: 1. Mình đã lầm; 2. Dg. ấy không tồn tại, Dg. ấy là Dg. trong đầu mình.

7.10.16

Rừng

Đêm nay Sơn lại trầm tư. Anh ngồi vào bàn làm việc từ lúc vừa ăn cơm xong đến giờ, và cứ thế đóng đinh đôi mắt lên màn hình máy tính. Thật ra không hẳn như thế, hai con ngươi của anh có chuyển động, tôi biết mà, chúng chuyển động lên xuống, nếu không, Sơn trông như đã chết rồi vậy.

Tôi những muốn lại gần bên anh, hỏi anh đang làm gì thế. Nhưng hành động đó chưa bao giờ là thông lệ đối với chúng tôi. Sơn chưa bao giờ nói tôi đừng lảng vảng ở nơi anh làm việc, tự tôi mới cảm thấy điều ấy là không nên. Có lần khi anh làm việc, còn tôi thì rảnh rỗi, hoặc tỏ vẻ rảnh rỗi để thu hút sự chú ý của anh, nhưng anh thì cứ đăm chiêu vào cái màn hình máy tính mỏng dẹt, tôi đi ngang qua và ngó lơ vào vật thể đang chễm chệ trước mặt anh. Chẳng có gì ngoài những con số li ti trong bảng biểu, tôi có thể thấy bóng mình trong ấy, gương mặt tôi biến dạng giữa những con chữ và số mà tôi không hiểu gì. Tôi nhìn vào đôi mắt anh, như thể hai con ngươi của anh cũng là những con số. Hai con số trong mắt anh rục rịch lên xuống, tôi thấy mình như bị đẩy ra xa và mất hút đằng sau cái màn hình đen sì, để lại Sơn và những những phép tính của anh, thế giới chân thật nhất với anh lúc này. Sơn vẫn lặng im và với tay lấy cốc trà mà tôi đã pha cho anh từ đầu buổi. Giờ tôi mới để ý, cốc trà đã nguội ngắt. Hình như Sơn có hơi bất ngờ khi uống ngụm trà đầu tiên, anh thậm chí còn chả để ý đến nhiệt độ của cốc trà khi chạm môi vào nó. Chỉ khi trà đi đến cổ họng anh mới hơi nghiêng vai, đó là biểu hiện của Sơn khi bất ngờ trước bất cứ điều gì. Kể từ đó, tôi tin một cốc trà từ tôi cho những ngày Sơn rất tập trung vào công việc như thế này có thể khiến chúng tôi thêm gần nhau hơn.

Tất nhiên chỉ khi cốc trà đó nguội đi, để tôi có thể kiếm cớ lại gần anh mà nói rằng: “Anh bảo em pha mà sao không uống, nguội rồi đây này, để em pha cốc khác!”. Sau đấy, lúc tôi vừa định quay đi, Sơn sẽ ngẩng mặt lên, khuôn mặt anh dài với những đường nét mượt mà không quá gai góc so với những người đàn ông khác, đến mức lúc nào tôi cũng muốn đặt hai bàn tay mình thành búp măng để ôm lấy nó. Đôi mắt hay thức đêm của Sơn thường hoe đỏ và ươn ướt, hai hàng lông mi của anh thưa dài. Và đôi môi, đôi môi ấy dường như như cứ mải mấp máy để tính toán những điều tinh vi. Tôi kịp nhìn khuôn mặt yêu thương ấy khi nghe anh nói bằng chất giọng khoáng đạt quen thuộc như chẳng giấu giếm gì: “Thôi em, anh ngồi lâu quá, mệt muốn chết, dù sao thì cũng gần xong rồi”.

Cái gì gần xong ấy của anh mà tôi không rõ, tôi không biết nó kết thúc khi nào. Anh chỉ nói với tôi khi mọi thứ đã chu toàn, tức là khi, công trình của anh đã được thử nghiệm thành công. Không phải lúc nào tôi cũng thờ ơ với công việc của anh, kì thực tôi là kiểu người luôn hứng thú với những điều mới mẻ. Tôi đến với anh cũng vì điều ấy. Sơn có lần nói: “Mỗi tế bào trong con người anh cứ như thể lớn gấp vạn lần một người bình thường vậy. Khi một tế bào của anh mất đi hay thay đổi, em sẽ thấy rõ sự phản ứng của anh, mỗi buổi sáng thức dậy, anh có thể cảm thấy một thứ gì đó đang lồi ra giữa một kẽ hở trong người mình, hoặc tế bào nào đó chỉ chờ anh mở mắt là vỡ ra tung tóe. Thế nhưng ngày lại ngày, anh chả thay đổi nhiều. Vì dù sao đó cũng chỉ là một tế bào trong hàng vạn thực thể khác trong cơ thể anh thôi mà”. Tôi nói anh đừng xạo và sến sẩm với tôi nữa, tôi sẽ không tha thứ vì anh đã chỉ tay vào mặt tôi và đập vỡ một cốc trà sáng nay.

Tôi nhớ ngày hôm ấy, anh co cụm lại trên giường, trong cái chăn mà chúng tôi vừa mới giặt, cứ thế cho đến khi mồ hôi của anh vã ra ướt đẫm cả chăn lẫn gối. Tối ấy tôi còn chưa kịp sờ vào trán anh xem có nóng sốt gì không thì anh đã ra khỏi nhà, mang theo hàng tỉ thứ giấy tờ linh tinh, tôi không lo nhiều, anh hẳn biết cách làm cho cơ thể thoải mái trong lúc làm việc. Tôi cũng không bận giặt lại cái chăn mỏng đẫm mùi mồ hôi của Sơn. Ngày hôm sau anh về, áo quần chỉnh tề và thơm mùi nước hoa đến lạ, tôi không biết đó là loại nước hoa nào vì với tôi thứ mùi nào không từ căn nhà này mà ra đều là một thứ mùi đầy chán ghét. Sơn lại nói: “Công việc của anh gần xong rồi, để anh kể cho em chuyện này”. Thế là chúng tôi lại chui vào cái chăn kia, hai thứ mùi của hôm qua và hôm nay đến từ anh là một sự chuyển tiếp hòa hợp và mềm mại. Tôi cuộn người lại, Sơn cũng co cụm lại và ôm lấy tôi, có một kẽ hở nào đó giữa chúng tôi, như thể một tế bào bong bóng đang lớn dần ở đó mà chẳng ai biết tuổi thọ của nó là bao nhiêu. Ngoài cửa phòng ngủ của chúng tôi, tiếng thầm thì của gió được khuếch đại lên qua những tầng lá của cái cây anh mới đem từ cơ quan về. “Nghe này em, bọn anh đã nhân giống thành công, mấy cái cây phát triển và sinh sôi nhanh dữ dội, chẳng mấy chốc mà mình sẽ có một cánh rừng lớn” – Sơn phấn chấn nói với tôi, tay anh huơ huơ trong chăn khiến nó bổng lên. Chân tôi hở ra khỏi chăn và hứng lấy một cơn gió mát lạnh đến rùng mình.

“Có những cánh rừng sẽ mãi mãi tồn tại”, Sơn thì thầm. “Chúng bất khả xâm phạm à anh”, tôi rúc vào lòng anh lần nữa. “Chắc thế, trong ấy chỉ có cây cối và không khí".

Rồi Sơn kể với tôi nhiều hơn về những chuyện khiến anh bận tâm bấy lâu nay. Anh đơn giản hóa cả những loại bảng biểu mà tôi hằng nghi ngờ về tính đột phá trong ấy. Tôi từng nghĩ, có khi nào anh không muốn nói chuyện với tôi nên lẳng lặng bên chúng để qua một đêm dài mà không phải đôi co với tôi. Nhưng rồi tôi chợt thấy, chúng tôi cần phải đôi co tiếp chuyện gì nhỉ, không có gì cả, tối nay ăn cơm xong anh thậm chí còn rửa chén giúp tôi trong lúc tôi trả lời email công việc. Sơn rất ghét công việc này, nhưng khi nghe tôi bảo tôi còn cả đống email phải trả lời anh lại vội vàng thu gom tất cả mọi thứ trên bàn ăn lại, như một đứa trẻ dọn dẹp sau khi chơi xong, anh tất bật cho mọi thứ vào bồn và bắt đầu loay hoay với mớ chén đĩa trơn trượt. Anh còn cười và nói: “Ơ, cái vành đĩa này đẹp em nhỉ, thế mà giờ anh mới để ý, lần sau em nhớ bày đồ ăn gọn gàng vào, hoa văn bị che hết mất rồi”.

Về lại câu chuyện của Sơn, câu đầu tiên anh nói khi miêu tả những cái cây trong khu rừng mới là: “Tụi nó đẹp lắm đó em, nhưng giá như chúng lớn lên đồng loạt thì mọi chuyện sẽ đơn giản hơn”. Tôi hỏi đơn giản hơn cho việc gì. Anh bảo: “Chúng sẽ thực hiện việc quang hợp đồng loạt hơn”. Rồi anh kể với tôi, còn tôi cứ tuần tự hiểu hơn về công việc anh làm, những cái cây ấy, chúng chỉ quang hợp, chúng được tạo ra để quang hợp, bằng cách nào đó chúng đã không chết vì thiếu sự hô hấp. Loài thực vật ấy không có cuộc sống như loài thực vật ngoài này, hẳn nhiên rồi, vì một khi hô hấp chúng sẽ thải ra khí CO2, không ai cần thứ khí ấy, chúng chỉ đến từ chúng ta và những nhà máy của chúng ta mà thôi. Người ta sẽ nối những cái ống từ các nhà máy hay xí nghiệp đến rừng cây ấy, các khí độc sẽ đi qua đường dây thông với một nhà kính, khi đến nơi chúng sẽ được nuốt trọn bởi rừng cây bên trong nhà kính ấy. “Kì lạ quá!” –Nửa người tôi đã ở ngoài chăn lúc nào tôi chẳng hay, gió đã ngừng, tôi đưa mắt nhìn cái cây bên cửa sổ. Cái cây anh đem từ cơ quan về trồng thử ở nhà. Tôi cảm thấy như một đôi mắt ngoài kia cũng đang đăm chiêu nhìn mình, như thể tôi đang nói xấu một người bạn cũ và cái cây nghe được hết. Sơn thì thầm bên tôi: “Em có muốn đi chơi đâu đó không?”. Đi đâu nhỉ, tôi nhủ thầm.

***

Tôi lại nghĩ đến Sơn, dự án của anh hẳn chỉ dành cho những kẻ lắm tiền có ý thức cao. Anh nói với tôi nếu mô hình này thành công thì công ty anh sẽ bày bán những cái cây như thế này, và tất nhiên là sẽ xây dựng những nhà kính thật quy mô nữa. Nhưng tôi không tin lắm về mức độ đại trà của mấy sản phầm như thế. “Anh có thật sự nghĩ mọi người đều nhận ra sự có mặt của bụi bẩn trong không khí không?” Tôi nói với anh lúc đang ở trong nhà tắm. Làn nước ngậm bọt nổi lềnh bềnh trườn trên da tôi, nhiều khi tôi ước mình có cong người ra sau và hút trọn đường bọt đang chạy dọc sống lưng mình, nếu tôi có thể làm như thế, hẳn đó sẽ là thú vui lớn của cuộc đời. Tôi nói tiếp chuyện với Sơn lúc xoa dầu xả lên tóc: “Ai cũng muốn thêm thứ gì đó vào cuộc đời mình...”. Mùi bưởi từ loại dầu xả này lúc nào cũng làm tôi khoan khoái, từ ngữ thoát ra khỏi miệng tôi những lúc này không cần phải đi qua lớp màn cân nhắc nào. “ Như em này, em đâu nhất thiết phải dùng thứ dầu xả này, nhưng em cứ mua vì dù em chỉ cần nó có một chút, đó cũng là một sự cần thiết lớn. Người ta quan tâm nhiều đến việc thêm thắt hơn là loại bỏ. Tất cả những gì em cần là bản thân mình được sạch sẽ, mọi người cũng thế thôi, nếu ai cũng nghĩ đến môi trường thì những sản phẩm thơm tho giả tạo như cái thứ em đang dùng đây sẽ không sống nổi.” Hương bưởi từ phòng tắm bay ra và chạy nhảy rất xa, chắc hẳn Sơn ngửi thấy mùi hương này cũng rõ như nghe giọng nói của tôi từ đây vậy.

Sơn không nói gì thêm cho đến khi tôi ra khỏi phòng tắm. Ấm nước trên bếp bắt đầu réo vang. Hẳn Sơn đang chuẩn bị pha trà, tôi vừa định nhắc anh thì có tiếng Sơn ở bên ngoài vọng vào bảo tôi rút phích ra giúp. Bây giờ đã quá mười hai giờ đêm, tôi không nhớ bao nhiêu lần rồi anh cản tôi đừng tắm táp gì vào giờ này. “Em sẽ chết mà không kịp nhìn anh lần nữa đấy” – Anh gằn giọng với tôi và níu lại cái khăn tắm. Những lúc như thế tôi thường bỏ đi luôn chẳng thèm đoái hoài gì vì tôi chỉ tắm vào giờ ấy khi trong người đầy bực dọc. Vì anh đã lấy đi cái khăn nên lúc nào tôi cũng ra khỏi phòng với bộ quần áo sạch ướt sũng trên người để trêu ngươi anh. Rồi tôi đi sấy tóc, nếu hôm ấy vừa buồn vừa mệt, tôi sẽ nằm cong như con tôm ươn trên ghế sofa và nhìn anh đang làm việc từ phía sau. Tấm lưng của anh lúc nào cũng thẳng băng dọc theo những họa tiết song song trên chiếc ghế tựa, sự an lành giữa hai chúng tôi tưởng như chỉ đến từ tấm lưng chuẩn mực mọi lúc của anh.

Hôm nay chẳng ai cản ngăn tôi tắm khuya, người tôi chẳng mấy chốc khô thoáng trong khăn bông. Nhưng tôi không hề thoải mái gì với làn hơi lạnh của đêm hờ hững bên mình. Cửa sổ mở toang, Sơn rời bàn làm việc không biết đã bao lâu, giờ anh đang ngồi ở trên băng ghế gần cửa sổ, dưới tán cây. Đầu anh ngửa lên trời, trước mắt Sơn là một vùng tối, bụi bay lấp loáng trong ánh đèn nhạt nhòa loang ra từ bên trong nhà. Kì lạ nhỉ, cái cây chẳng thể hút được bụi. Tôi đã ngồi bên Sơn tự lúc nào, trên tay là cốc nước ấm, tôi bó gối nhìn xuống đất, những lọn tóc ướt rủ xuống trước mặt. Tay anh chen vào giữa mái tóc tôi, sự thô ráp nơi bàn tay anh như truyền vào những sợi tóc, len lỏi vào trong tâm trí tôi, tình thương của tôi cho anh bỗng dưng vẫn còn mới mẻ, hơi nước nóng xộc vào mũi làm mắt tôi ngân ngấn, nhưng tôi lại tỉnh táo hơn. “Em lúc nào cũng muốn nghỉ ngơi, muốn đi chơi nữa, nhưng thế giới ngoài kia thật nóng nực”.

Sơn không nói gì thêm, anh chỉ vươn tay với lấy một cành lá của cái cây bất tử, anh gọi nó như thế. Anh vẫn hay khoe với tôi về nhiệm vụ đặc biệt của những cái cây như thế này, chúng nó sống chỉ để làm đẹp cho đời. Hơi thở của chúng thuần túy là sự sống. Bao nhiêu ô uế cứ luân phiên được chuyển hóa bên trong mỗi tế bào của chúng để những gì tốt đẹp được giải phóng ra ngoài. Sơn gọi đấy là “viễn cảnh ngọt ngào”.

***

Đó là những lời cuối cùng tôi nghe được từ Sơn vào đêm hôm ấy, “viễn cảnh ngọt ngào”, trước khi tôi kịp rơi vào một giấc ngủ sâu hun hút. Ở nơi ấy, Sơn dẫn tôi đi trên con xe máy, giữa đường vắng băng băng, chúng tôi cứ thế lao đi trong cơn gió được tạo ra từ chính cơ thể mình. Da trên mu bàn tay anh căng bóng trên tay lái, nắng cứ rọi vào đấy mà lấp lánh mãi không thôi. Tôi mải nhìn về phía trước, nhìn xuống bàn tay đang nắm chặt của anh, rồi lại nhìn vào gương mặt điềm tĩnh nơi gương chiếu hậu. Thỉnh thoảng quay đầu sang hai bên, tôi lại thấy rừng, và những kẽ lá đen sâu hoắm mà ánh sáng không lọt được vào. Rồi bỗng dưng, tôi nhảy xuống xe, trả lại con đường cho Sơn và nhảy vào những kẽ lá ấy, rồi tôi bị cuốn đi, ngút hơi vì những cơn gió nghẹn ngào ngập ngụa khí độc, giữa những ngón tay tôi, nhựa cây đang bám dính.

15.6.16 ~ 7.10.16

10.9.16

Sói thảo nguyên, vài chuyện khác

Câu chữ trong văn bản sách giáo khoa nhiều khi khiến tôi lúng túng. Viết về sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ví von sự uốn mình chuyển dòng của con sông như một cuộc tìm kiếm có ý thức để đi tới nơi nào đó. Điều tôi thắc mắc là, có cuộc tìm kiếm nào mà vắng bóng ý thức không? Nếu có như vậy, đó có còn là một cuộc tìm kiếm hay không? Hay nên dùng từ khác, mộng du chẳng hạn. Kiểu như, sông Hương đi trong cơn mộng du có ý thức. Tôi không có ý gì, chỉ là cái chữ ý thức làm phiền tôi nhiều quá, hoặc là, việc lựa chọn và xếp đặt các tính từ bên cạnh danh từ, hoặc bên cạnh nhau, lúc nào cũng là một thử thách trước sự tham lam của người viết.

Người ta đã nói quá nhiều về những cuộc tìm kiếm trong các cuốn sách, nhiều đến mức ta có thể thấy chân lý ở khắp mọi nơi, và quen với nó, bỏ qua nó, nhưng hễ thấy thiếu nó là lại phát rồ lên, dù là trong một cuốn sách. Tôi đọc Sói thảo nguyên trong những ngày tôi nghĩ nhiều đến nỗi sợ hãi, một điều rất riêng tư, lẽ ra tôi không nên nói, vì không có chân lý nào ở trong đó hết. Tôi có nên tìm chân lý trong nỗi sợ, Sói thảo nguyên đã chứng minh một điều, ít nhất là với tôi, chân lý ở đâu thì ở đó có sự sống, chân lý trong nỗi sợ hãi, nỗi sợ hãi sẽ sống mãi. Theo như blog Nhị Linh, nếu đọc Sói thảo nguyên lúc trẻ ta sẽ bỏ qua rất nhiều điều, tôi không thể cưỡng lại được.

Khi Hermann Hesse viết Sói thảo nguyên, ông đã nhìn nhận chính mình rất kĩ lưỡng với con mắt của một người thông tuệ và từng trải, điều này khiến cuốn sách trở nên khéo léo hơn và bớt đi bế tắc. Nhân vật tôi, trong cùng cực tuyệt vọng và hoang mang đã từ từ bóc tách từng lớp bi ai chắc nịch của chính mình, để đạt được một chút gì đấy: tự do, trí tuệ, thâm trầm, sự cô quạnh,.... Harry Haller đã luôn tin trong y tồn tại hai bản chất, bản chất sói và bản chất con người. Y dằn vặt khi bản tính sói và người tranh giành nhau để hành xử trong xã hội đầy nhóc bọn trưởng giả mà ở đó, là một con người Harry lẩn trốn với sự kinh tởm, là một con sói Harry chễm chệ hòa vào trong. Y còn dằn vặt lẫn lộn giữa sự thuần túy của hai linh hồn ấy.

Rằng đó đơn thuần là sự ngu muội và nhu nhược của con người, số phận con người nói chung, hay tính ích kỉ ủy mị này, sự thiếu cá tính, tính không nghiêm chỉnh này và lá mặt lá trái này của cảm giác chỉ là một khí chất riêng của bọn sói thảo nguyên.
Tin vào sự tồn tại của hai bản ngã ấy trong tâm trí mình, song, Harry vẫn có một nỗi sợ thường trực rằng một ngày nọ phần sói sẽ che lấp phần người của hắn. Có nghĩa hắn sẽ phải là một con sói. Nhưng chẳng đơn giản thế, hàng trăm linh hồn khác còn chen chúc ở trong hắn và chỉ chực chờ nhảy xổ ra đày đọa bản ngã của hắn bất kì lúc nào.

Đọc Sói thảo nguyên những ngày qua, tôi nhận ra rằng khi sống đến một mức nào đó, đủ để nhìn thấy sự lặp lại của chính mình, niềm sợ hãi của con người sẽ chuyển dần từ những biến cố sang sự cố hữu. Chẳng may, nàng Hermine, phải chăng là một cái tôi nữa của Harry bảo rằng:
Khi một con người quá buồn, không phải do đau răng hay mất tiền, mà vì có một lần nào đấy trong vòng một giờ y cảm thấy hết thảy cuộc đời mình là như thế nào, lúc ấy y mới thật sự buồn, lúc ấy trông y luôn hao hao một con thú - lúc ấy trông y thảm não lắm, nhưng hoàn hảo hơn, đẹp hơn lúc thường.  
Đó chỉ là một trong rất nhiều câu nói của Hermine, nàng sắc sảo, kiên định, khéo léo quá, nàng nói ra câu nào là chân lý câu nấy. Nàng có thể là một đứa trẻ thơ lí lắc nếu cần, và cũng là một người đàn bà khôn ngoan, sắc sảo nếu muốn. Nàng đã hòa quyện ngọt lịm với cuộc đời mà vẫn tỉnh táo. Tôi bắt đầu dành tình thương đặc biệt cho Hermine kể từ lúc đọc đến đây:
Quan niệm của anh về cuộc đời mới quái lạ làm sao! Nghĩa là anh đã luôn làm những việc khó khăn và phức tạp, còn những chuyện đơn giản anh hoàn toàn không học à? Không có thì giờ à? Không hứng thú à? Em không phản đối, đội ơn chúa, em không phải là mẹ anh. Nhưng rồi anh làm như thể đã nếm trải hết cuộc đời, rồi bảo rằng chẳng tìm thấy gì cả; không, như thế không được.  
Không, không thể nào đồng nhất nỗi buồn của con người với nhau, nếu tìm hiểu kĩ và so sánh mọi nỗi thống khổ của hàng vạn người, hẳn, sự đố kị sẽ bừng lên.  Vì mọi người đã sống và làm những điều hoàn toàn khác nhau. Người non nớt, kẻ từng trải; người cần mẫn, kẻ lười biếng; người tài hoa, kẻ chậm chạp, tất cả đều đang chống chọi với những điểm cơ bản của cuộc đời: thời gian, việc học, sự giải trí, sự phát triển của xã hội, sự thay đổi và mâu thuẫn của bản ngã, sự ghê tởm nói chung... Những điều ấy là bất di bất dịch. Nhưng thành tựu của con người thì không ít. Hẳn vì còn trẻ, tôi mủi lòng trước ý nghĩ rằng, mọi vấn đề chỉ nằm đó cho ta giẫm đạp lên để mà sống, chứ không thể nào hóa giải nổi. Hay cần nhiều thời gian hơn, như bóng hình Goethe trong tâm tưởng Harry đã nói: Bản tính ta nhiều thứ rất trẻ con, rất tò mò, ham đùa nghịch và phung phí thời gian. Thành ra ta đã mất khá mới nghiệm ra được rằng chơi đùa thế là quá đủ. Hay cần nhiều sự hài hước hơn, vì: Mọi khôi hài cao quý đôi chút đều bắt đầu bằng việc không coi bản thân mình là quan trọng nữa. Đọc Sói thảo nguyên của Hermann Hesse, một con người tài hoa như thế vào lúc này chỉ khiến tôi càng nghi ngờ vào những gì mình đang, và sẽ trải qua, ở cái nhìn tồi tệ hơn, rằng cuộc đời tôi còn đẹp chán, sao lại phải, ba chấm; nhưng tôi giờ chỉ là, sao cứ mãi, ba chấm. Tôi không học hỏi được nhiều hơn, cả việc phải trở nên hài hước để khuếch tán đi những sự phi lý, mâu thuẫn đến đáng buồn.

Thốt lên câu Give me time, hay Give me humour là lố bịch như nhau, tương tự vậy với Give me love. Tại sao phải chạy trốn trong sự đỏi hỏi?

Vì trốn chạy là khởi sự của một cuộc tìm kiếm, một cuộc tìm kiếm dẫu có hỗn loạn thì vẫn mang ý thức, khi con người không vô tri như một dòng sông, làm sao khác đi được bản chất ấy.

2.9.16

Một khoảng trời xanh

Em đã nhìn
Người người di cư
Trên dòng thời gian đã mất
Nối dài những niềm vui chất ngất
Khi con tim chết ngất
Trong sự mâu thuẫn
Là một bông hoa sớm nở tối tàn

Em đã thấy
Không ai ngăn nổi việc hóa thân
Thành một hạt cát lưu thông.

27.8.16 

***

Có rất nhiều điều mà tôi từng tưởng mình sẽ không bao giờ phải làm. Không hiểu sao, thật ra là tôi có hiểu, chỉ là tôi phớt lờ, là tại sao mình lại làm thế. Cũng như V., đã hoàn toàn lơ đi khi tôi nói với bạn rằng, tôi từng có rất nhiều nguyên tắc nhưng dần dần lại phá vỡ hết. Việc deactivate tài khoản Facebook là một trong những việc hèn nhát và khờ dại bậc nhì mà tôi đồ rằng mình chẳng bao giờ phạm phải. Thế mà khi tôi nhận ra mình đã lún đến một mức nhất định của sự giải trình, sự muốn được biết đến, sự vô tri, sự ám ảnh, tôi không còn nhận ra mình ghét cái gì trên tất cả những thứ được bày sẵn nữa. Đương nhiên, Facebook chỉ là một ví dụ, một ẩn dụ, một hoán dụ, là gì cũng được. Nói chung là có cái gì đó bự hơn sắp bể đổ. Tôi không tin có điều gì mạnh mẽ và ác liệt hơn sự im lặng.

Có một chuyện éo le hơn là, mất Facebook, tôi không thể đăng nhập Spotify thân quen, tôi không thể nghe nhạc. Éo le hơn, tôi sẽ lấy chuyện đó làm cái cớ để vòng lại.

13.8.16

Một ngày lu nam



Sáng nay, bố tôi nói, trời này gọi là trời lu nam đấy. Đấy là khi bầu không có những cơn gió nam thổi về, còn bầu trời thì tràn trề mây. Tôi thức dậy với một cơn mơ nửa vời mà tôi không nhớ rõ, gió ùa vào phòng tôi qua một nửa khung cửa sổ, lặng lẽ phủi đi sự nửa vời kia.

Chiếc xích đu màu xanh dương trước nhà lúc nào cũng im lìm, dưới chân tôi, những bông hoa giấy rơi rụng đang trôi dạt trên nền đất, chỉ một vài bông thôi, vì chiều hôm qua bà tôi đã quét và dồn chúng vào một góc vườn. Tôi đọc cuốn sách còn dang dở, bên tai là tiếng hát karaoke của một người lớn rảnh rỗi, tiếng của rặng tre khô khốc như đang rạo rực trước một cuộc đời sắp hết. Rặng tre sắp chết. Vì thời tiết nóng nực kéo dài, vì tuổi già, vì cô đơn. Vườn nhà tôi chỉ còn duy nhất rặng tre này, bố tôi đã nhiều lần muốn phá đi, nhưng tôi bảo đừng, vì nhiều lý do khác, bố tôi không phá nó nữa. Chiều qua, bố nằm trên chiếc võng mắc giữa hai cây cột trước sân, nói, mấy cây tre chết rồi. Tôi nói, chỉ một cơn mưa là nó sẽ sống lại thôi, tôi tin thế. Khi nghe tiếng rặng tre kẽo kẹt nơi góc vườn trong đêm tối, tôi càng tin chúng cứ thế mà sống mãi. Không có ý nghĩa nào trong việc tôi muốn giữ bụi tre đó ở lại, ngoại trừ chuyện ngày nhỏ tôi từng hái lá tre ở sau vườn cho lũ thỏ trong chuồng ăn. Tôi đã vươn tay hái những chùm lá tre quá đầu mình, vô vàn là màu xanh, tôi tự hỏi, sẽ là chùm nào đây nhỉ giữa vô vàn những chiếc lá này, sẽ vào miệng lũ thỏ trắng kia. Rồi, tôi ngồi xổm trước lũ thỏ ấy, đưa chiếc lá tre dài gọn ghẽ qua tấm lưới, chiếc lá sẽ đến miệng lũ thỏ, những cái miệng nhỏ xíu xinh xinh, tôi cứ nhìn vậy, lũ thỏ lún nhún ăn lá tre, chẳng xun xoe, chẳng sợ sệt.

Hai thằng cu tí cười đùa trước sân nhà tôi, một thằng nhỏ, một thằng lớn hơn. Hai em đem theo một quả bóng nhỏ màu vàng và tung qua tung lại. Tôi nói với hai em tôi rất thích trời như này, trời mát mà không nắng gắt, tôi ước gì ngày nào cũng như hôm nay. Thằng tí nhỏ liếc nhìn tôi bảo đúng thế. Tôi hỏi em thế có thích trời nắng không, em mải chơi mà quên trả lời. Lát sau tôi lại hỏi, hai đứa chơi có mệt không. Thằng tí lớn nói ngắt ngứ: mệt, mà vui (hình như là vậy). Tôi ước gì, tôi có thể nhớ hết những cuộc đối thoại của mình với hai em, tôi ước gì tôi có thể nhớ hết những cuộc đối thoại trên đời này. Tôi có thể nhớ, hôm ấy em mặc áo màu gì, mang đôi dép thế nào, hôm ấy em buồn hay vui, hôm ấy các em đã nói với nhau hay nói với tôi những điều gì. Tôi gặp các em đã lâu, vậy mà chẳng có gì để nhớ. Những ngày thườn thượt tôi không mong mình nghe tiếng các em, tôi thậm chí không biết mình đang vùi đầu vào đâu, tiếng các em vang lên trước cửa phòng tôi như vỗ về một tấm thủy tinh lì lợm. Giọng các em lanh lảnh và trong trẻo khi đòi tôi lấy xuống cho các em bộ cờ cá ngựa, để các em chơi theo một luật chơi kì lạ nào đó. Thi thoảng tôi đến hỏi, ai thắng, sẽ có một em rạng rỡ nói to, khi tôi hỏi ai thua, sẽ chẳng ai trả lời. Đấy, quy luật của các em là vậy. Vậy mà trong những ngày thườn thượt và trễ nải kia, giọng nói của các em lại trở nên thật lệch tông và phiền hà. Những ngày ấy, tôi không bật nhạc, nếu tôi mở những bài hát nhanh nhảu mà có các em ở đó, các em lại nhảy lưng tưng như làm một cuộc cách mạng trẻ con. Những ngày ấy, nếu tôi mở phim hoạt hình, các em sẽ ngồi lại sau lưng tôi, ê a đánh vần phụ đề, đánh vần được vài ba chữ các em sẽ bật cười vì hành động của một kẻ ngô nghê mà bỏ sót những từ tiếp theo.

Tôi có thương trẻ con không, hay chỉ thương những lời nói luyên thuyên của chúng. Khi một ai đó nói rất nhiều về chỉ một điều, tôi nhận ra, người ấy vẫn còn rất trẻ. Như thầy của tôi vậy, thầy yêu thơ Đường, và khi thầy nói về thơ ca với tôi, tôi cảm thấy thầy có những lý lẽ mà không ai hiểu hay thông cảm được. Tự dưng tôi muốn gặp thầy, muốn trả lời những câu hỏi của thầy, mà trước kia, tôi đã không trả lời, hay bỏ dở. Thầy đã hỏi tôi: Con thích Văn hơn Toán à?; Con thích làm điều gì?; hay trong một tiết học hình, thầy bảo với chúng tôi: Các con thấy không, những loại hình mình học chúng cứ hoàn thiện dần, hình thang rồi dần đến vuông thì vừa vặn hơn, vậy Khuê, con thấy con cần phải sửa đổi điều gì? Ôi, đã có ai đặt những câu hỏi ấy cho tôi, đã bao nhiêu năm rồi, đến giờ tôi mới nhận ra ý nghĩa của những câu hỏi ấy. Tôi đã không trả lời thầy, hoặc, đã chẳng thật lòng, có những câu trả lời thật lòng mà tôi không nói, đến giờ thì vẫn còn vừa vặn trong lòng.

Tôi nhớ thầy. Tôi thương bọn trẻ con, tôi mong chúng đừng vội lớn mà tranh cãi với chính mình. Trong phút chốc, tôi nhớ đến Tr. và những lời cậu nói về niềm yêu thích của cậu, cậu diễn giải mọi thứ ngập ngừng, rối rắm đến mức tôi sắp phì cười, nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ bảo cậu dừng hẳn lại chỉ vì tôi không hiểu.

Nhìn lại đi, tôi đã bắt đầu như thế nào, và kết thúc như thế nào, chỉ trong cái entry này thôi đấy.

11.8.16

Vụn

Tôi nhận ra, ở một chừng mực nhất định của sự lương thiện, không có nhiều ý nghĩa của một việc mà mình không làm hơn một việc mà mình có làm. Tôi từng nhắc đến X, với một sự băn khoăn rất lớn về những gì X không làm. Những gì X nói về chúng có lý đến đáng buồn. Nhưng nếu tôi không làm những việc người khác không làm, thì nghĩa là tôi sẽ chẳng làm gì cả, một cái tôi rất trống không, và hoàn toàn sai bét.

-----

Lão Burr trong nhạc kịch Hamilton của Lin-Manuel Miranda, một lão ăn nằm với vợ của người khác hát rằng:

Tình yêu chẳng màn
kẻ tội đồ
hay bậc hiền triết
nó cứ việc, cứ việc, cứ việc
ta thì cứ yêu nhau nhăn răng.


Tương tự như vậy với chuyện bi kịch cuộc đời, lão hát:

Cái chết chẳng màn
kẻ tội đồ
hay bậc hiền triết
nó cứ việc, cứ việc, cứ việc
ta thì cứ sống nhăn răng.


Với cả tình yêu và sự sống chết, lão đều hát rằng :

… we break
and we made our mistakes
if there’s a reason
(for loving and living)

I’m willing to wait for it.

Tất nhiên là Burr đã đợi chờ thành công, chồng của người tình lão ra trận vài ba năm thì mất, Burr danh chính ngôn thuận sống với nàng được chừng 20 năm. Nhưng có những việc mà sự chờ đợi chẳng đem lại cho lão kết quả nào so với Hamilton, người chẳng hề nao núng hay chờ đợi gì mà vẫn cứ chiến thắng nhăn răng. Đấy là lời của Burr trong bài hát, có vẻ lão ghen tị với Hamilton thậm tệ. Sau này Burr đấu súng với Hamilton sau bao lâu wait for it, Hamilton bại trận và từ giã cõi đời. Điều này thì vượt ra khỏi giới hạn của sự lương thiện, khó có thể cân đo về ý nghĩa.

-----

Tôi bị ám ảnh bởi một điều, rằng, dù là việc gì, những việc tôi không làm thì tức là không làm, tôi mong mình đừng lôi thôi, đừng lý giải.

10.8.16

Kamikaze Girls (2004) – Phim cho nàng buồn

Kamikaze_Girls-008

Nếu một ngày nàng buồn ẩm ương và cảm thấy cô đơn quá, hãy xem một phim của đạo diễn Tetsuya Nakashima. Nàng nên xem Kamikaze Girls (2004), và khoan xem Confession (2010) dù Tetsuya đã đạt hàng loạt giải thưởng cho phim này, cũng đừng để bị lừa bởi sự rực rỡ của poster và khuôn mặt hài hước của nhân vật chính mà xem Memories of Matsuko (2006). Hãy xem Kamikaze Girls, bộ phim thứ ba của Tetsuya Nakashima sản xuất năm 2004, chuyển thể từ cuốn light novel cùng tên của nhà văn Novala Takemoto.

Kamikaze Girls dịch sang tiếng Việt là Nữ thần phong, kamikaze trong tiếng Nhật nghĩa là gió thần, theo Wikipedia đây là một từ tiếng Nhật, được những tiếng khác vay mượn để chỉ các cuộc tấn công cảm tử bởi các phi công chiến đấu Nhật Bản chống lại tàu chiến của các nước Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai trong giai đoạn kết thúc Chiến dịch Thái Bình Dương.Tên phim khá khó hiểu, giải nghĩa ra thì không liên quan đến nội dung mấy, nhưng đại khái, các nàng trong phim đều rất mạnh mẽ và liều lĩnh trong thế giới của riêng mình với những chuẩn mực mà họ tự đặt ra.

Chuyện phim đi theo lời kể của nhân vật Momoko (Kyoko Fukada), một nữ sinh trung học luôn ước ao được sống trong thời đại Rococo vào thế kỉ XVIII ở Pháp, một thời đại xa hoa với những con người yêu chiều bản thân trong lạc thú dù cuộc sống thực tế không hề ngọt ngào chút nào. Nàng Momoko sống một mình trong thế giới ảo diệu của nàng, say sưa với những bộ trang phục cầu kì của thương hiệu Baby, The Stars Shine Bright, không ăn đồ ăn vị chua và châm ngôn sống của nàng là: Tôi muốn lấp đầy bản thân mình với những thứ ngọt ngào. Momoko sẽ cứ mãi sống cuộc sống an toàn ngọt ngào như thế nếu nàng không gặp Ichiko (Anna Tsuchiya), một cô nàng ngang tàng, bạo lực trong hội đua xe Đuôi ngựa. Từ sự trái ngược về tính cách, hai cô gái mới lớn dần dần có những trải nghiệm mới mẻ trong tình bạn và cuộc đời.

Ngoài hai nhân vật chính, Kamikaze Girls còn gây ấn tượng ở cách xây dựng tính cách những nhân vật bên lề, mặc dù không đóng góp trực tiếp cho cốt truyện chính nhưng lại là những điểm nhấn nhá rất đáng yêu. Chẳng hạn như người cha vô dụng và yếu đuối của Momoko (Hiroyuki Miyasako), khởi nghiệp bằng nghề trộm cắp rồi sau đi bán hàng hiệu rởm; bà nội (Kirin Kiki) ghiền chocolate và hay vung tay chộp bọ của Momoko; Ryuji (Sadao Abe), mối tình đầu của Ichiko, gây ấn tượng bởi mái tóc và sự nghĩa hiệp; hay Momoko của ngày nhỏ nghiêm nghị và dứt khoát trong mọi lời nói… Các nhân vật luôn được thể hiện đến tận cùng của mọi tính cách từ vô cùng dửng dưng đến nhiệt tình tha thiết.  Hành động của những nhân vật này cũng giúp mạch phim thêm phần thướt tha, nhưng cũng có lúc dứt khoát, gãy gọn, tạo nên nhịp điệu lên xuống rất đặc trưng cho phim của Tetsuya Nakashima. Phong cách này rõ ràng hơn trong bộ phim tiếp theo mà ông làm năm 2006, Memories of Matsuko. Nói về nét hài hước trong những bộ phim, Tetsuya nói rằng ông có xu hướng nếu muốn thể hiện điều gì trên phim thì sẽ thể hiện nó từng chút một, để cho người xem có thời gian nhận ra điều mà ông muốn truyền tải, thay vì đưa họ đến cảm xúc cực điểm ngay lập tức. Có lẽ vì thế dạo đầu của Kamikaze Girls tạo cảm giác hơi chán, vì mặc dù có những tình tiết hài hước nhưng hơi lê thê và rời rạc. 

Kamikaze-Girls-2

Kamikaze Girls hẳn nhiên không phải là một bộ phim quá trong sáng kiểu học đường, từ màu vàng cam lưng chừng không buồn không vui, không quá sáng sủa hay tăm tối phủ lên toàn bộ phim, đến những phân cảnh được quay chớp nhoáng, chao đảo, hay cảnh đánh nhau hội đồng máu me tung tóe. Nhưng trong phim vẫn có những khoảng lặng gần gũi mà một nàng buồn có thể đang phải trải qua, như khi Ichiko đau khổ vì mất đi mối tình đầu một cách không ai ngờ, hay khi Momoko băn khoăn trước chiếc váy trắng tinh, không biết có nên chấp nhận công việc thêu thùa một cách nghiêm túc hay nàng sẽ chỉ là một khách hàng biết hưởng thụ của Baby, The Stars Shine Bright,… Ở những phân đoạn ấy, ca khúc She said của Yoko Kanno vang lên lặng lẽ và ngọt ngào, đưa đẩy cảm xúc người xem một cách lạ lẫm trong suốt chiều dài bộ phim. Nàng sẽ thấy, những cô gái với diện mạo kì cục ấy thật giống mình. Họ đều là những người bướng bỉnh trong thế giới của chính mình, họ đều có khúc mắc trong mối liên kết với mọi người. Sự bám víu của Ichiko vào hội đua xe hay sự dửng dưng của Momoko trước những mối quan hệ với bạn bè đều là cách để họ tự giải thoát mình khỏi nỗi cô đơn hay lạc lối. Sự say mê thời đại Rococo của Momoko hay câu chuyện viễn tưởng của Ichiko về vị nữ thủ lĩnh hội đua xe đều là cách để họ yêu chiều tuổi trẻ và củng cố niềm tin của bản thân trước khi đưa ra những quyết định chín chắn hơn trong đời. Đôi khi những huyền thoại cứ mãi tiếp tục, nối dài những ngày tuổi trẻ, ngay cả khi nàng cảm thấy bản thân đã sẵn sàng cho những điểm đến khó khăn hơn.

Vậy nên, Kamikaze Girls thích hợp cho một nàng buồn trong một ngày uể oải. Khi nàng muốn cho mình một lý do để uể oải, hãy xem Kamikaze Girls, sau đó lại tự tin mà đơn độc làm những gì mình muốn, vì suy cho cùng ai cũng cần được một mình và một mình là một điều tất yếu. Như Momoko nói: Con người sinh ra là những cá thể độc lập, suy nghĩ độc lập và cho đến khi chết cũng như vậy. Nếu còn băn khoăn, hãy nhớ đến Momoko mà lấp đầy bản thân với những điều ngọt ngào. Một trong những điều ngọt ngào ấy là Kamikaze Girls.

5.8.16

Còn gì

Em biết nói gì khi nghĩ về tình yêu thương, biết nói gì khi nghĩ về những sự bất công mà con người không ngại ngần ném vào mặt nhau. Biết bao nhiêu là đủ, biết bao nhiêu là đúng, biết bao nhiêu là sáng suốt, là trung thực. Người ta dần dần hình thành cho mình những loại hình nguyên tắc và kỉ luật, rồi dần dần họ tự tay mình đập vỡ nó. Con người muốn sống được thì phải tự biện giải cho bản thân mình. Nhưng họ sẽ nói gì, với con cái họ, với những người thân, những người vừa thèm khát cả lý lẫn tình. Quyền lực là một thứ nặng nề thế. Mà sao không ai nhận ra, ai cũng muốn vơ vào mình, để rồi tìm cách không chối bỏ bản thân.

Còn gì buồn hơn sự không công bằng. Chỉ nghĩ đến cô thôi, chỉ nghĩ đến đoạn đường cô phải trải qua để đi đến trường mới, mà đáng lẽ cô không phải đi. Dẹp bỏ tình cảm, chỉ còn lý trí, cô cũng không phải là người phải đi con đường đó. Thế thì tại sao, tại sao không ai đứng về bên cô?

Người ta sợ, sợ gì. Sợ bản thân sẽ mệt mỏi, sợ bản thân bị tổn thương. Không, họ chắn chắn sẽ không bị tổn thương, nhưng họ là những người như thế, những người có quyền hạn nhưng mệt mỏi và chán chường trước quyền lựa chọn..

Nghe nhạc tình để làm gì? Khi người ta cứ mãi thờ ơ. Thơ văn để làm gì? Khi người ta không thể đối xử hay nói với nhau những lời đẹp hay đúng.

Rốt cuộc, tương lai của mỗi người cũng chỉ là sự sửa sai. Lỗi cũ chưa kịp sửa, lỗi mới đã dâng cao, người ta có sợ thời gian đã mất hơn quyền lực. Nghĩ về chuyện này, em chả biết làm gì, nếu sự tức giận tự thân có sức mạnh, bức tường nào sẽ được phá bỏ trước tiên.

4.8.16

Chạm tay vào sách

gfgdfvs
Ngỗng ngây thơ (hình ảnh chỉ mang tính minh họa)

Ngày còn học cấp Hai, tôi bất mãn với cách hoạt động của thư viện trường đến mức tôi ví nó với cái toa lét, bài viết này ở đây. Đến giờ tôi chắc chắn cái thư viện kia vẫn đang thoi thóp,... còn cái toa lét thì sao tôi cũng chả biết. Bất cứ ai có học chữ cũng thấy rõ tầm quan trọng của thư viện, tầm quan trọng của sách. Các bậc cha mẹ gặp nhau, thầy cô gặp nhau, thầy cô và các bậc cha mẹ gặp nhau, điều họ hay than phiền nhất là, “lũ nhỏ bây giờ chả bao giờ chịu đụng tới một quyển sách nào”.

Thật ra, cái khó ở đây, việc đọc sách đòi hỏi một sự chủ động đáng kể. Bạn có thể vô tình nghe một ca khúc của Sơn Tùng dội từ quán cà phê, bạn thích, tìm nghe cả album của ảnh, bạn có thể vô tình lướt qua một bức tranh và đứng lại nhìn nó. Nhưng với sách, thì hầu như, bạn phải có một sự sẵn sàng ngay từ lúc chạm tay vào bìa, sự sẵn sàng ấy theo bạn từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng. Với một đứa trẻ, cuốn sách đầu tiên mà nó đọc, dù chả với mục đích gì, cũng cực kì quan trọng, vì nó cho đứa trẻ có quyền lựa chọn. Lựa chọn gì ư? Là chọn giữa việc đọc thêm cuốn sách thứ hai, hay thôi, một cuốn sách là đủ cho đời nó. Là lựa chọn giữa truyện tranh hay tiểu thuyết hay muôn vàn thể loại khác, vân vân, còn vô số lựa chọn khác trong cuộc đời mộng mị của nó. Thế mà, sao con đường đến với sách lại khó thế, thư viện thì đóng cửa, hiệu sách thì khan hiếm, truyện tranh thì bị coi là rẻ rúng, ngôn tình bị cho là suy đồi,… Chuyện đọc đã cũ, nói đến đây lại còn cũ hơn, ngoài cơ sở vật chất, định kiến là bức tường ngăn con người ta đến với sách.

Quẩn quanh trên mạng, ngoài những bài phê phán sự lên ngôi của ngôn tình, truyện tranh là con sâu đục khoét tâm hồn, những thứ này thì thôi không bàn, còn có những bài gợi lên khá nhiều suy nghĩ như đọc sao cho đúng, 101 cuốn sách bạn nên đọc vì tương lai xán lạn,… Rõ ràng là việc đọc đã bị (hoặc được) mục đích hóa, bởi những danh sách gọn ghẽ. Có gì đó không ổn? Thế cái mà một người đọc cần là gì, đơn thuần là niềm vui? Cũng không ổn nốt. Người bảo đọc cần phải chọn thì nói kẻ đọc cho vui là hời hợt. Người đọc cho vui thì nói kẻ mục đích kia đang giết chết tình yêu sách của nhân loại. Quay lại chuyện cuốn sách đầu tiên một đứa trẻ đọc cho nó cái quyền lựa chọn, tôi nghĩ sự tranh cãi trên chỉ có nghĩa với những tâm hồn ngây dại chưa biết mặt chữ, khi một người đã có ý thức với việc đọc, họ sẽ biết đâu là cách họ gắn bó với sách. Một khi họ đã bắt đầu đọc sách với một tình cảm, thứ tình cảm đó sẽ theo họ đi theo mọi thể loại, dù họ có mong muốn gì ở chúng. Còn với người vẫn lạ lẫm với việc đọc, những bài viết trên sẽ giúp họ nhanh đưa sách lên bàn thờ, khấn vài nén nhang, rồi cắn răng mở sách. Ôi, đó là một điều hết sức nguy hiểm.

Thế nên tôi nghĩ cả những người khăng khăng bảo đọc vì sự học, hay đọc vì niềm vui đều đang quá nhạy cảm với sách. Với nhạc, phim,… tôi luôn thấy những bài viết tương tự, nào là cách cải thiện gu nghe nhạc của bạn, nghe Rock đúng cách, nghe Jazz đúng cách, những phim người XYZ cần xem,… như một điều vốn dĩ bắt buộc, như cái chữ “cần” và “đúng” nhan nhản trong tiêu đề của chúng. Như thể, nếu bạn không nghe lời, tương lai bạn sẽ hói một mảng. Bạn có thể không quan tâm đến những bài viết này nhưng chúng cứ tồn tại, vì bất cứ thứ văn hóa phẩm nào cũng cần một môi trường đa dạng để phát triển. Đa dạng về người tiếp nhận, nguồn cung cấp, đa dạng về mục đích tiếp nhận,... Mà ngay cả, sự đọc vì niềm vui cũng là một mục đích. Tôi vẫn tin, niềm vui là mục đích đầu tiên của việc đọc, hay trong bất cứ công việc nào. Nhưng nó không cần nằm ở vị trí độc tôn, một khi bạn được đọc, đó là một sự may mắn lớn, giá trị cuốn sách đầu tiên bạn đọc ẩn chứa một sự hên xui lớn. Con đường sau này, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, bạn sẽ có thêm nhiều hi vọng ở những gì bạn đọc, và bạn nghĩ rằng sự vô tư thuở đầu của bạn đã mất. Không đâu, chả có gì là vô tư, khi bạn nhận ra mình có thể đọc thì mọi sự vô tư đã mất. Vì bạn luôn mong chờ có được một điều gì đó từ sách, dù để rút ra bày cho thiên hạ, hay rút vào làm niềm vui trong lòng.

Những người vô tư nhất luôn là những người đáng thương nhất, vì họ không chạm tay được vào sách, lỗi lớn thuộc về những cánh cửa thư viện khép chặt trước mắt họ lúc nhỏ. Trường học là chốn than van về văn hóa đọc nhiều nhất nhưng cũng là một trong những nơi góp phần kiềm hãm việc đọc, vì mọi người đều định nghĩa quá nhiều về một cuốn sách. Không ai có thể chỉ cho bạn cách yêu một sự vật, thế nên họ cố hết sức để chỉ cho bạn lợi ích của nó với hi vọng vì một chút vụ lợi, bạn chịu hành động. Những bài viết chỉ cách đọc đúng, không thể nói là không có ích. Nhiều khi tôi còn thấy nỗ lực ấy thật đáng thương. Điều ai cũng cần có lẽ là sự tỉnh táo, để không phủ nhận lý trí hoặc tình cảm, tính mục đích hoặc sự vô tư trong việc đọc, để thôi tự hào trên sự thuần khiết của bản thân mình.

Nhiều khi ta bị nhạy cảm với tình cảm quá, nhìn ở đâu cũng thấy thiếu một gam tình cảm. Mà tình cảm ở đâu cơ chứ? Bạn nói, tôi có thể làm điều tôi không thích, hay tôi chỉ làm những gì tôi thích thì có nghĩa chi. Rốt cuộc thì tình cảm cũng ngự ngay đấy, ở sự sẵn sàng của bạn khi dấn thân vào những gì mà bạn còn mù mờ về thái độ của mình dành cho nó. Cũng như Italo Calvino viết trong Nếu một đêm đông có người lữ khách: “Tôi đã hiểu những giới hạn của mình… Trong khi đọc, có một cái gì đó xảy ra mà tôi không thể sai khiến được…”. Còn nếu bạn chả có gì để làm, thì hẳn, bạn có thừa nhiều kí lô của cả tình cảm lẫn sự không may.

2.8.16

X

Đòi hỏi sự cảm thông không hoàn toàn là điều đúng đắn và dễ dàng.

Tôi biết điều ấy, càng ngày tôi càng hiểu điều ấy.

Tôi cũng đã đi qua cái thời mà mỗi tâm trạng của mình là một hiện tượng cần diễn giải, viết nó ra, thế là tôi sẽ dễ thở hơn. Mọi thứ giờ đã hết nhưng tôi vẫn không ngừng được việc mong đợi phép màu của sự cảm thông. Tức là điều gì, tôi không rõ, tôi cần nhiều hơn thế, tôi nghĩ sự cảm thông là một điều khắc nghiệt, khắc nghiệt với đôi bên.

Tôi không thông cảm với những gì X viết, nhưng có nhiều điều ở đó đến với tôi vừa kịp lúc, an ủi tôi và gợi cho tôi hằng hà suy nghĩ, có thể tôi chỉ tự huyễn hoặc mình, điều đó chẳng quan trọng. Bất kì ai cũng có thể nghĩ như X, nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng nốt. Tôi phục những người có thể viết về một điều gì đó xuyên suốt, họ như những cỗ máy biết điều tiết cảm xúc, cứ việc viết và không mưu cầu sự cảm thông. Tất cả đều mang dáng dấp của một thứ dịch vụ. Lòng tôi sẽ không có khoảng trống nào nếu họ ngừng viết, thực chất thì chẳng có điều gì trên newsfeed mất đi để lại cho tôi khoảng trống nào. Nhưng tôi những mong X cứ viết mãi.

Có hôm nọ, tôi đọc một bài trên một trang về tâm lý nọ, họ nói người dùng nhiều chữ "tôi" quá thì có hai khả năng, một là người đó ở cấp bậc thấp trong xã hội, hai là anh ta bị trầm cảm. Tôi viết câu này ra là bởi khi tôi viết đến đây, nhìn lên trên thì đã có ba đoạn văn bắt đầu bằng chữ "tôi", tôi không biết xử thế nào.

Tôi đã loay hoay không biết tạo blog ở đâu, Wordpress hay Blogger. Theme của Wordpress quả thật rất đẹp, nhưng hay bị lỗi font, tôi không thể nào chịu đựng nổi một sự bất hoàn hảo cực lớn như chuyện lỗi font. Thế nhưng theme Hew của Wordpress lại hoàn hảo khó cưỡng nếu không tính đến chuyện ép khách trả tiền đề nâng cấp theo ý muốn. Theme của Blogger thì chuối khó tả, nhưng rõ ràng và tiện lợi, không bế quan tỏa cảng, không xa xỉ. Thế nên tôi chọn Blogger.